HSK5
448. Thể hiện “Không như kỳ vọng” với “偏偏” (Khăng khăng/Cứ)
NGỮ PHÁP 448. THỂ HIỆN “KHÔNG NHƯ KỲ VỌNG” VỚI “偏偏” (Khăng khăng/Cứ) /piān piān/
1. Ý nghĩa
Tương phản.
2. Cách dùng
偏偏 (piānpiān) có lẽ là một trong những phó từ khó nhất đối với người học tiếng Trung, vì nó thực sự mang nhiều sắc thái trong cách sử dụng. Thông thường nó là để bắt đầu mệnh đề thứ hai của câu, và nó thể hiện rằng một điều gì đó trái với mọi đợi đã xảy ra. Có hai loại kỳ vọng: yêu cầu khách quan và hy vọng / mong muốn. Ngoài ra, 偏偏 cũng có thể diễn đạt ý nghĩa tương tự như 仅仅 hoặc 只有, với ý nghĩa không hài lòng.
Cấu trúc khá đơn giản. Đầu tiên, một câu lệnh hoặc nói trong mệnh đề đầu tiên ‘thiết lập’ tình huống (A), sau đó 偏偏 được đặt trước hoặc sau chủ từ trong mệnh đề thứ hai (B).
Cấu trúc: A, Chủ đề + 偏偏 + B
Thông thường ta có thể nó thành ‘lại’, ‘cứ’, ‘vẫn’, ‘khăng khăng’…… Tuy nhiên cần dựa vào ngữ cảnh cụ thể để dịch chính xác nhất.
3. Ví dụ
VD1:
经过大家的讨论, 问题都解决了, 偏偏他还要钻牛角尖。
Jīnɡɡuò dàjiā de tǎolùn, wèntí dōu jiějuéle, piānpiān tā hái yào zuānniújiǎojiān.
Thông qua cuộc thảo luận của mọi người, vấn đề đều đã được giải quyết, anh ta vẫn cứ thắc mắc mắc những vấn đề vụn vặt.
VD2:
不叫他去, 他偏偏要去。
Bù jiào tā qù, tā piānpiān yào qù.
Không bảo anh ta đi, anh ta vẫn khăng khăng muốn đi.
VD3:
大家都叫他离开了, 偏偏他还赖着不走。
Dàjiā dōu jiào tā líkāile, piānpiān tā hái làizhe bù zǒu.
Mọi người đều bảo anh ta đi đi, anh ta vẫn cứ lười đi.