Ngữ pháp

Tất cả cách dùng của chữ 的 /de/ Khi nào cần thêm 的

Mục lục

[tabs type=”horizontal”]
[tabs_head]
[tab_title] Nội dung video[/tab_title]
[tab_title] Tổng quan 1 [/tab_title]
[tab_title] Tổng quan 2 [/tab_title]
[tab_title] Tổng quan 3 [/tab_title]
[/tabs_head]
[tab]

Có phải chữ 的 là một trong những điều khiến Cho các bạn cực kỳ đau đầu.
không vậy thì hãy xem hết video này nhá
bởi vì tất cả những thắc mắc của các bạn liên quan đến chữ 的 đều sẽ được giải đáp.
Chào mừng các bạn đã quay trở lại với chuyên mục ngữ pháp đơn giản của tiếng Trung Thảo An các bạn có biết chữ 的 có mấy cách dùng có mấy chức năng không . Nó có 3 chức năng chính
mời các bạn cùng tìm hiểu 3 chức năng này là gì nhá.
– Chức năng đầu tiên đó chính là dùng để kết nối
+ đầu tiên chúng ta hãy cùng xem trật tự cần lưu ý đối với chữ 的
Hãy cùng nhìn vào ví dụ sau khi tiếng Việt chúng ta nói là: cô gái xinh đẹp.
Thế thì tiếng Trung sẽ phải nói xinh đẹp trước sau đó là xinh đẹp, cô gái. chúng ta sẽ nói là
hoặc ví dụ như các bạn nói là 漂亮的女孩
Hoặc như các bạn nói: Điện thoại mới: Tiếng Trung sẽ nói là “Mới, điện thoại”
Tức là “新手机”
vì sao lại có sự khác biệt giữa tiếng Trung và tiếng Việt trong cái trật tự này
Đó là bởi vì tư duy ngôn ngữ của tiếng Trung và tiếng Việt là khác nhau.
Chúng ta hãy cùng xem nhá, với 2 cái từ đơn lẻ đó là cô gái và điện thoại thế thì chúng ta biết được đấy là nói về một người nào đó, và một cái vật nào đó, đây là những cái từ chỉ đối tượng rất là Chung Chung .

Thông thường khi nói chúng ta sẽ phải có thêm những thông tin liên quan về đặc điểm, về tính chất, về những cái sự việc xảy Ra xung quanh cái đối tượng này để làm rõ hơn, ví dụ chúng ta nói là: cô gái xinh đẹp, cô gái thông Minh, cô gái Cao, cô gái gầy hoặc điện thoại thì chúng ta có điện thoại xịn, điện thoại đểu, điện thoại mới, điện thoại cũ, điện thoại Samsung, điện thoại iPhone.

Thế thì khi thêm vào những cái thông tin bổ sung như thế chúng ta không có những cái từ đơn lẻ nữa mà chúng ta có hẳn một cụm từ các bạn chú ý nhá.
Khi mà có nhiều từ đứng cùng với nhau ấy chúng ta gọi là cụm từ, thế thì chúng ta cần phải chú ý này trong những cái cụm từ này sẽ có những cái cấu trúc cố định.
Ở trong tiếng Việt Khi chúng ta nói là ai hoặc cái gì đằng sau là cái thông tin bổ sung miêu tả Cho nó là như thế nào đấy, thì trật tự trong tiếng Trung sẽ phải ngược lại.
người ta sẽ nói như thế nào trước sau đó mới nêu Ra cái đối tượng là AI hoặc cái gì.
Thế thì ở trong cụm từ này
chúng ta sẽ có 2 cái tên gọi cần phải chú ý như sau:
Cái thành phần như thế nào ấy thì người ta gọi là định ngữ
Cái thành phần, ai hoặc cái gì đấy người ta gọi là trung tâm ngữ

Ở trong tiếng Trung định ngữ là phải đứng trước
trung tâm ngữ là phải đứng sau
Ở giữa là đôi lúc sẽ có từ 的 để kết nối giữa 2 thành phần này
đây cũng chính là cái chức năng đầu tiên của chữ 的 đấy, nó dùng để kết nối định ngữ và trung tâm ngữ.

Thế thì để mình cắt nghĩa Cho các bạn hiểu rõ thế nào là định ngữ, thế nào là trung tâm ngữ nhá.

Định ở đây là định nghĩa, ngữ: ở đây là từ ngữ Chúng ta hiểu định ngữ là cái từ dùng để định nghĩa Cho một đối tượng nào đó
Định nghĩa tức là gì, tức là nêu rõ những cái thông tin liên quan như đặc điểm, tính chất hoặc là những cái sự việc xảy Ra về đối tượng đó

Thế còn trung tâm ngữ là gì, trung tâm là chính rồi nhá, thế còn ngữ là từ ngữ, trung tâm ngữ chính là cái từ ngữ chính cái đối tượng chính được nhắc đến trong một cái cụm từ

Vậy thì ở đây chúng ta có cái cấu trúc định ngữ đứng trước, trung tâm ngữ đứng sau, ở giữa chính là từ tơ dùng để kết nối.

Có một điều mà các bạn đặc biệt phải chú ý đó chính là cái cấu trúc mà chúng ta vừa nói là cấu trúc của một cụm từ, chứ không phải là cấu trúc của một câu.

Các bạn chú ý nhá khi mình nói tôi yêu cô gái xinh đẹp chẳng hạn đấy mới là một câu hoàn chỉnh. Thế còn cô gái xinh đẹp ấy thì đấy chỉ là một cụm từ thôi, và cụ thể ở đây là cụm danh từ.

Thế thì nếu như các bạn nói Theo cả một câu ấy thì trật tự câu trong tiếng Việt với tiếng Trung khá là giống nhau, tức là những cái thành phần cốt cán những cái thành phần chính í vẫn đúng trật tự như thế.

Ở đây nhá tôi vẫn đứng trước này yêu đứng sau này yêu ai, cái thành phần ai đấy là đứng sau cùng. Thế nhưng mà cái thành phần này là có nhiều từ chứ không phải một từ đúng không? Thế thì nhiều cái từ trong một cái cụm này này khi đấy mới cần đảo trật tự.

Các bạn chú ý chúng ta nói là tôi yêu cô gái xinh đẹp, thế thì tiếng Trung sẽ phải nói là “我爱漂亮的女孩” hoặc là ví dụ như cái câu tôi có điện thoại mới chẳng hạn, chữ tôi cũng phải nói trước này, chữ có nói sau, có cái gì là để sau cùng 我有我有手机 tôi có điện thoại thế nhưng bây giờ tôi có cái điện thoại như thế nào thì cái thông tin như thế nào lại phải đặt trước cái từ điện thoại nhá chúng ta phải nói là “我有新手机”

Nếu như các bạn đã rõ về trật tự này rồi, thế thì vấn đề còn lại của các bạn, đó chính là mình phải làm quen dần với cái cấu trúc mới, tức là bao nhiêu năm nay nhá, mình đều nói Theo một cái trật tự của tiếng Việt rồi, bây giờ mình có một cái trật tự mới trong tiếng Trung, mình phải đảo ngược lại hoàn toàn so với tiếng Việt.

Đây là một điều rất là khó đúng không, các bạn cần phải luyện tập rất nhiều lần, rất nhiều lần, để Cho não mình quen dần và khi đấy thì mình sẽ phản xạ được nhanh hơn và bây giờ chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một cái phần cực kỳ quan trọng đó là khi nào thì cần dùng 的 khi nào thì không cần dùng 的.

Nếu như các bạn để ý thì từ đầu đến giờ, những cái ví dụ được đưa Ra ấy, có những từ thì được thêm 的 vào, có những cụm từ thì không thấy xuất hiện chữ 的 thế thì quy tắc có rất nhiều, nhưng mà mình đã tổng hợp lại thành những cái chú ý, đầy đủ nhất đơn giản nhất, để Cho các bạn dễ dùng.

chúng ta hãy cùng xem nhá,
sau đây là những trường hợp bắt buộc phải dùng 的,

Trường hợp đầu tiên.
đó chính là khi chúng ta cần nói sự sở hữu nào đó, sở hữu tức là của đấy cái gì, của ai đấy thì khi đấy không cần phải nghĩ nhiều đúng không nhất định chúng ta sẽ thêm tơ rồi.

Ví dụ: khi chúng ta nói là sách của tôi tiếng Trung sẽ là 我的书, hoặc là chúng ta nói là xe của tôi tiếng Trung sẽ là 我的车 của

Trường hợp thứ 2.
Nhất định phải có 的 là khi các thành phần đứng trước thành phần định ngữ mà nó là 1 tính từ có 2 âm tiết chúng ta phải thêm 的.

Ví dụ khi chúng ta nói: Cô gái xinh đẹp đấy, ở đây cái thông tin như thế nào đó chính là xinh đẹp.

Thế thì đây là một tính từ, trước tiên nó là tính từ cái đã và sau đấy là tính từ này là có 2 âm tiết, âm tiết đầu tiên là xinh, âm tiết thứ 2 là đẹp đấy. Thế thì chúng ta bắt buộc phải có từ 的. VD 漂亮的女孩.

Hay ví dụ một trường hợp khác cô gái thông Minh
ở đây lại có một cái tính từ đó là thông Minh
tính từ này cũng có 2 âm tiết, Cho nên chúng ta cũng nói là 聪明的女孩.

Thế thì các bạn sẽ hỏi là, tính từ một âm tiết thì sẽ như nào. Tính từ một âm tiết không cần dùng 的.

Ví dụ: Khi chúng ta nói là người tốt, ở đây tốt là một tính từ, nó là định ngữ đấy tính từ, có một âm tiết thôi Cho nên không cần nói 的 nữa, chúng ta không cần nói là 好的人, chỉ cần nói là 好人 thôi.

Hoặc ví dụ khi chúng ta nói là người đẹp chẳng hạn, chúng ta có cái từ đẹp ấy đó là từ 美 người là 人 người đẹp chúng ta chỉ cần nói 美人 không cần nói là 美的人 cái từ 美人 này dịch âm Hán Việt Ra chính là “mỹ nhân” đấy.

Thế còn một trường hợp nữa chúng ta cần phải lưu ý: khi cái tính từ đấy là một âm tiết, nhưng nếu trước tính từ đấy mà có một phó từ, thì chúng ta lại phải thêm tơ vào, phó từ là những từ như nào.

Ví dụ như là phó từ chỉ mức độ nhá thì có từ 很 từ 特别 từ 非常, hoặc là những cái phó từ phủ định như là 不, 没… tất cả những từ đấy đều là phó từ.

Thế khi mình nói người tốt thì chỉ cần nói 好人 thế người không tốt, là có thêm cái phó từ không đấy chính là từ phụ mình phải nói là 不好的人.

Hoặc là người rất tốt thì mình lại nói là 很好的人, các bạn thấy nhá thêm từ 不, từ 很 vào
thì các bạn phải mặc định là phải thêm 的 vào.

Và một trường hợp nữa chúng ta không cần suy nghĩ nhiều chỉ cần nhìn thấy cái phần như thế nào ấy mà có cái động từ thì chắc chắn là cái cụm đấy phải thêm 的.

Các bạn thấy nhá khi chúng ta nói là, cái người mà học tiếng Trung, ở đây chúng ta không cần biết nó là một từ đơn lẻ, hay là một cụm từ, hay là cả một câu đứng đằng trước, chúng ta chỉ cần nhìn thấy động từ thôi là chúng ta bắt buộc là thêm 的 rồi.

Ví dụ “người học tiếng Trung” sẽ phải nói là 学汉语的人,
hoặc là khi chúng ta nói “cơm mẹ nấu” ở đây có cái ở đây coa động từ gọ là từ “nấu” chúng ta phải nối là: 妈妈做的饭

Như vậy có 4 trường hợp bắt buộc phải thêm 的
Các bạn có nhớ không, thứ nhất đó là sự sở hữu, thứ 2: đằng trước nó là 1 tính từ 2 âm tiết thì phải thêm 的, thứ 3 là: đằng trước nó là tính từ 1 âm tiết,nhưng trước cái tính từ một âm tiết đấy lại có phó từ, cũng phải thêm 的 này
và thứ tư đằng trước nó mà là một cái động từ
chắc chắn phải thêm 的.

Thế còn trường hợp nào thì không cần dùng tơ cái này thì lại dễ hơn rất là nhiều nhá, khi chúng ta có cái thông tin liên quan đến phân loại, chủng loại thì thường là không cần thêm tơ nữa.

Ví dụ khi chúng ta nói là sách tiếng Trung, sách tiếng Trung ở đây ý có rất nhiều loại sách khác nhau, sách tiếng Trung, sách tiếng Hán, sách tiếng Hàn, thế thì cái cụm tiếng Trung ở đây ý là, mang thông tin phân loại Cho sách là thuộc loại tiếng Trung, chúng ta không cần thêm tơ nữa trực tiếp nói là hoặc là mình có cái cụm từ là 汉语书 hoặc là ,mình có cụm từ “ảnh đen trắng”, ảnh thì cũng có rất nhiều loại đúng không, ảnh đen trắng ảnh màu, thế thì ở đây, mình đã có thông tin là phân loại rồi, không cần thêm Trường hợp tiếp Theo mà chúng ta không cần dùng 的 nữa nhá, chúng ta sẽ trực tiếp nói là 黑白照片.

Trường hợp tiếp Theo mà chúng ta không cần dùng 的, đó chính là khi cái đối tượng, mà chúng ta đang nhắc đến ở đây, ấy là một tập thể, thì thường là sẽ không cần dùng tơ nữa.

Ví dụ khi chúng ta nói là nhà tôi nhà là một tập thể nhá thì chúng ta không cần nói là 我的家 chúng ta chỉ cần nói là 我家 là được rồi. hoặc là công ty của tôi đấy chúng ta chỉ cần nói là 我们公司 chứ cũng không cần nói là 我们的公司.

Trường hợp tiếp Theo
đó là khi chúng ta nói về người thân trong gia đình,
các bạn nhớ nhá khi chúng ta nói là bố tôi, mẹ tôi,
anh tôi, chị tôi
tức là tất cả những người thân ruột thịt í,
thì chúng ta không cần dùng chữ 的 nữa
chúng ta tưởng tượng như là bỏ chữ 的 đi
thì là cảm giác nó gần gũi thân thiết hơn ấy
thay vì nói bố của tôi 我的爸爸 thì mình chỉ cần nói bố tôi thôi 我爸爸, mẹ tôi sẽ là 我妈妈. Thế nhưng nếu như không phải nói là bố mẹ anh chị em của tôi của cô ấy của anh ấy nữa mà nói là bố mẹ hoặc anh chị em của Mary này của David này của Lý quân này hay là của Tiểu HOA tiểu Minh tức là những cái tên riêng ấy thì thường người ta lại thêm 的.

Người ta lại lại nói là, ví dụ như chúng ta nói là bố của Mary thì người ta lại nói là 玛丽的爸爸 người ta ít nói là 玛丽爸爸.

Các bạn chú ý nhá, bố mẹ anh chị em của một cái tên riêng nào đấy nhớ là thường sẽ phải thêm 的.

Thế thì có một cái chú ý nho nhỏ Cho các bạn như thế này, 2 cái trường hợp phía sau mà mình vừa nêu, khi mà không cần dùng tơ đấy, thế thì 2 cái quy tắc này là 2 quy tắc không thực sự là chặt chẽ lắm. Ví dụ khi bạn nói là bố tôi bạn có thể nói là 我爸爸, nhưng nếu mà bạn quên bạn nói là我的爸爸 cũng không AI bảo các bạn nói sai cả.

Người ta thường là thường bỏ cái chữ 的 đi thôi
nhưng mà nếu các bạn thêm vào cũng không ảnh hưởng quá lớn.

các bạn chú ý nhá, 2 cái trường hợp đằng sau thôi chứ không phải tất cả đâu.

Ngoài Ra có một cái chú ý nữa đó chính là khi trong một cụm từ mà có quá nhiều 的 thì mình phải ưu tiên giữ lại cái 的 ở gần cuối nhất tức là giữ lại cái 的 ở gần trung tâm ngữ nhất ấy.

Ví dụ chúng ta nói là sách của bạn tôi
ở đây nhá bạn tôi thì chúng ta sẽ nói là 我的朋友 nhưng sách của cái đứa bạn tôi ấy chúng ta sẽ phải nói là 我的朋友的书, thấy rõ ràng ở đây là có 2 chữ 的 đúng không, nhưng mà các bạn nhớ nhá, khi mà có 2 chữ 的 hoặc là nhiều hơn 2 chữ 的 trở lên, chúng ta sẽ giữ lại một cái thôi, để làm Cho câu nó đỡ bị rối, đỡ bị rườm rà. Chúng ta sẽ giữ lại cái nào đó chính là chữ 的 ở gần trung tâm ngữ nhất tức là ở gần cái đối tượng chính cái từ sách ấy chúng ta sẽ nói là 我朋友的书.

hoặc một ví dụ khác son của đứa bạn tôi
chúng ta sẽ nói như nào đó chính là 我朋友的口红

Vậy là chúng ta đã học xong cách dùng đầu tiên của chữ 的, đó là dùng để kết nối

Thế cách dùng thứ 2 của nó là gì, chúng ta hãy xem ví dụ sau nhá, ví dụ khi có một người nói là đây là xe máy của tôi, tiếng Trung sẽ nói là 这是我的摩托车. Thế thì người bạn của người này sẽ nói là xe máy của cậu là xe máy mới à, câu sẽ phải như nào xe máy của cậu你的摩托车, là xe máy mới à 是新的吗?

Các bạn thấy là trong cùng một cái cuộc hội thoại, này là họ đang nói về chiếc xe máy, đây là một cái đối tượng mà ai cũng biết rồi thế thì lặp đi lặp lại rất là nhiều lần cái chữ 摩托, chưa nghe câu rất là rườm rà đúng không trong trường hợp như thế này này người ta sẽ lược bỏ cái đối tượng mà ai cũng biết đi, lược bỏ đi ví dụ khi chúng ta nói là đây là xe máy mới à, chúng ta chỉ cần nói là 这是新的吗, nếu mà đầy đủ thì sẽ là 这是新的摩托车吗. Nhưng mà bởi vì ai cũng biết là đang nói về 摩托车 rồi nhá chúng ta có thể bỏ cái từ đấy đi, chúng ta chỉ cần nói là 这是新的吗

thế thì rõ ràng cái cấu trúc định ngữ 的, trung tâm ngữ mà chúng ta học ban đầu ấy, ở đây đã bị thiếu mất một thành phần, đó chính là trung tâm ngữ.

Các bạn chú ý nhá khi chúng ta nói chuyện, mà chúng ta đã biết cái đối tượng đấy là gì rồi, bên trên có nhắc đến một lần rồi, thế thì lần sau chúng ta không cần phải nhắc lại nữa, chúng ta có thể trực tiếp bỏ trung tâm ngữ đi và chỉ, còn lại mỗi cái định ngữ với chữ 的 thôi.

Ở đây trong sách, nếu như các bạn học ấy người ta gọi là, từ tổ chữ 的 đấy hoặc là cụm từ chữ 的,
các bạn cùng xem ví dụ sau nhá 我喜欢吃的是面包 , câu này các bạn có hiểu nghĩa không. 我喜欢 là tôi thích 吃的 ở đây rõ ràng là đã bị lược bỏ mất trung tâm ngữ rồi 是面包, đầy đủ của nó là 我喜欢吃的是面包, chúng ta sẽ dịch cả cụm này đó chính là cái thứ, mà tôi thích ăn, là bánh mì.

như vậy các bạn chú ý nhá, khi chúng ta nhìn thấy một từ bất kỳ, mà đằng sau của nó lại có thêm chữ 的, thì mình hiểu ngay, đó vốn là một cái cấu trúc có đầy đủ định ngữ này 的, trung tâm ngữ, nhưng mà ở đây là đã bị giảm lược cái thành phần trung tâm ngữ đi rồi.

Các bạn có phải là đang thắc mắc là nếu mà giản, lược như thế thì mình không biết được cái đối tượng đang nhắc đến là cái gì, không biết dịch Ra làm sao đúng không.

thực Ra ấy trong một cái cuộc hội thoại thông thường, là người ta phải nhắc đến cái đối tượng đấy rồi, thì ở đằng sau người ta mới giản lược, chứ người ta không giản lược ngay từ đầu.

thế còn ví dụ như mà mình gặp một câu bất kỳ,
mà mình không biết được cái thành phần,
đã nhắc đến trước đó là cái gì,
thì chúng ta cứ mặc định,
cái thành phần bị lược bỏ đấy là cái từ chung chung nhất,
ví dụ như là từ “cái” này từ “thứ”, từ “điều” ví dụ như mình nói là 吃的 thì mình dịch luôn là đồ ăn, 喝的 mình dịch là đồ uống,

我买的 mình dịch như nào mình sẽ dịch là thứ mà tôi mua, như vậy là chúng ta cũng vừa làm quen với cả cái chức năng số 2 của chữ 的 tuy là dùng để kết nối nhưng mà kết nối ở trong trường hợp là đã bị lược bỏ trung tâm ngữ đi rồi.

Thế còn chúng ta sẽ tiếp tục sang với cả cái chức năng số BA của chữ 的 đó là dùng để nhấn mạnh.

Các bạn hãy xem câu sau: Ví dụ chúng ta nói là, tôi đi bằng máy bay, tiếng Trung sẽ nói là 我坐飞机去, tôi đi bằng máy bay, thì mình phải nói bằng máy bay trước rồi hẵng nói là đi nhá 我坐飞机去.

Thế nhưng mà đây là một câu thông thường
nếu mình muốn nhấn mạnh thì chúng ta sẽ dùng như nào.
Cụ thể là trong cái trường hợp, người khác lại cứ tưởng là bạn đi bằng tàu hỏa bạn giải thích, bạn muốn nhấn mạnh lại là không phải đi bằng tàu hỏa đâu mà tôi đi bằng máy bay cơ, chúng ta sẽ phải dùng cấu trúc nhấn mạnh của tiếng Trung, cấu trúc này đó là 是 cộng với cái gì đó cộng với cả 的 ở giữa chữ 是 và chữ 的 chính là điều mà các bạn muốn nhấn mạnh.

Ở đây điều mà mình muốn nhấn mạnh đó chính là đi bằng máy bay, thì mình sẽ c ho cả cụm từ đấy vào nhá, chúng ta sẽ nói là 我是坐飞机区的, các bạn chú ý nhá khi mình Cho cái cấu trúc 是, 的 vào đây chỉ mang cái mục đích nhấn mạnh thôi nếu bỏ đi cũng không sao cả, ý nghĩa của 2 câu là giống nhau chỉ có điều sắc thái là cái nào nhấn mạnh cái nào là kẻ thông thường thôi.

Ngoài cái cấu trúc 是, 的 chúng ta còn có một cấu trúc nhấn mạnh khác đó là 很, 的.

Ví dụ khi chúng ta nói là rất là to chúng ta chỉ cần nói 很大 nhưng mà mình còn muốn nhấn mạnh hơn nữa cái sắc thái của mình còn cao hơn nữa mình có thể nói là 很的大 thêm cái cấu trúc 很 cái gì đó 的 vào là cái ý nghĩa của nó sắc thái của nó là được nhấn mạnh hơn. Và câu này cũng thế dù các bạn có thêm 的 hay là không thêm, nghĩa của câu vẫn thế, chỉ có điều sắc thái nhấn mạnh nó khác nhau chúng ta hãy luyện tập với câu sau nhé! thông thường chúng ta nói là tôi đến từ hôm qua 我昨天来 nhấn mạnh hơn thì mình sẽ nói như nào 我是昨天来的, cô ấy rất thông Minh 他很聪明 thế nếu mình muốn nhấn mạnh mình sẽ nói như nào 他很聪明的.

Như vậy là chúng ta đã học hết 3 cách dùng của chữ 的, các bạn đã nắm hết được chưa.

[/tab]
[tab] Tab 1 |

Chữ “的” (de) là một từ rất phổ biến và quan trọng trong tiếng Trung, có 3 chức năng chính.


1. Kết Nối (Connection)

Chức năng chính của “的” là kết nối Định ngữ (thành phần miêu tả, đứng trước) và Trung tâm ngữ (danh từ chính, đứng sau).

  • Trật tự từ: Ngược với tiếng Việt.
    • Tiếng Việt: Trung tâm ngữ + Định ngữ (Ví dụ: cô gái xinh đẹp)
    • Tiếng Trung: Định ngữ + Trung tâm ngữ (Ví dụ: 漂亮的女孩)
  • Khi nào bắt buộc dùng “的”:
    1. Chỉ sự sở hữu: Sách của tôi -> (wǒ de shū)
    2. Định ngữ là tính từ có 2 âm tiết: Xinh đẹp -> 漂亮女孩 (piàoliang de nǚhái)
    3. Định ngữ là tính từ 1 âm tiết, nhưng có phó từ đi kèm: Không tốt -> 不好 (bù hǎo de rén)
    4. Định ngữ là một cụm động từ: Học tiếng Trung -> 学汉语 (xué hànyǔ de rén)
  • Khi nào không cần dùng “的”:
    1. Định ngữ là tính từ 1 âm tiết (không có phó từ): Người tốt -> 人** (hǎo rén)
    2. Định ngữ chỉ sự phân loại, chủng loại: Sách tiếng Trung -> 汉语书** (hànyǔ shū)
    3. Khi nói về người thân, tập thể thân thuộc: Bố tôi -> 爸爸** (wǒ bàba)
    4. Để tránh rườm rà (khi có quá nhiều “的”): Chỉ giữ lại “的” gần Trung tâm ngữ nhất.

2. Giản Lược (Abbreviation)

Khi Trung tâm ngữ đã được nhắc đến và cả người nói, người nghe đều hiểu, có thể lược bỏ nó. Lúc này, cụm từ Định ngữ + 的 đóng vai trò như một danh từ.

  • Ví dụ:
    • Đây là xe máy của cậu à? Đây có phải là cái mới không? -> 这是吗? (Zhè shì xīn de ma?)
  • Cách dịch: Thường dịch là “cái…”, “thứ…”, “người…”.

3. Nhấn Mạnh (Emphasis)

Dùng “的” trong một số cấu trúc đặc biệt để nhấn mạnh một thông tin cụ thể trong câu.

  • Cấu trúc nhấn mạnh sự việc đã xảy ra: 是 + … + 的
    • Ví dụ: Tôi đi máy bay. -> 坐飞机去的** (Wǒ shì zuò fēijī qù de)
  • Cấu trúc nhấn mạnh mức độ: 很 + … + 的
    • Ví dụ: Rất rất to. -> 很大的** (Hěn dà de)

[/tab]
[tab] Tab 2 |

1. Chữ 的 có 3 chức năng chính:

  1. Kết nối định ngữ và trung tâm ngữ

  2. Thay thế khi lược bỏ trung tâm ngữ

  3. Nhấn mạnh trong câu


2. Chi tiết từng chức năng:

① Chức năng KẾT NỐI (định ngữ + trung tâm ngữ)

  • Trật tự tiếng Trung KHÁC tiếng Việt:

    • Tiếng Việt: “cô gái xinh đẹp” → Tính từ đứng sau.

    • Tiếng Trung: “xinh đẹp (的) cô gái” → Tính từ đứng trước, thêm 的 nếu cần.

    • Ví dụ:

      • “điện thoại mới” → 新手机 (không cần 的).

      • “cô gái xinh đẹp” → 漂亮的女孩 (cần 的 vì tính từ 2 âm tiết).

  • Cấu trúc:

    text

    Copy

    Download

    Định ngữ (miêu tả) + 的 (nếu cần) + Trung tâm ngữ (đối tượng chính)
    • Ví dụ:

      • “sách của tôi” → 我的书 (的 bắt buộc vì có sở hữu).

      • “người tốt” → 好人 (không cần 的 vì “好” là tính từ 1 âm tiết).

  • Quy tắc dùng 的:

    Bắt buộc dùng 的Không cần 的
    1. Sở hữu (我的书 – sách của tôi)1. Danh từ phân loại (汉语书 – sách tiếng Trung)
    2. Tính từ 2 âm tiết (漂亮的女孩)2. Tập thể (我家 – nhà tôi)
    3. Tính từ 1 âm tiết + phó từ (很好的人)3. Người thân (我妈妈 – mẹ tôi)
    4. Có động từ (学汉语的人 – người học tiếng Trung)4. Khi có nhiều 的, giữ 的 gần trung tâm nhất (我朋友的书 – sách của bạn tôi)

② Chức năng THAY THẾ (lược bỏ trung tâm ngữ)

  • Dùng khi đối tượng đã được nhắc đến trước đó, tránh lặp từ.

    • Ví dụ:

      • A: “这是我的摩托车” (Đây là xe máy của tôi).

      • B: “是新的吗?” (Xe [máy] mới à?) → Lược bỏ 摩托车.

    • Dịch cụm “的 + [lược bỏ]”:

      • “吃的” → “đồ ăn”, “我买的” → “thứ tôi mua”.


③ Chức năng NHẤN MẠNH

  • Dùng cấu trúc 是…的 hoặc 很…的 để nhấn mạnh thông tin.

    • Ví dụ:

      • “Tôi đi bằng máy bay” → 我是坐飞机去的 (Nhấn mạnh “bằng máy bay”).

      • “Rất to” → 很大的 (Nhấn mạnh hơn so với 很大).


3. Lưu ý quan trọng:

  • Tiếng Trung đảo trật tự tính từ + danh từ so với tiếng Việt.

  • Luyện tập nhiều để quen với cấu trúc mới.

  • Khi nói về người thân + tên riêng, thêm 的 (玛丽的爸爸 – bố của Mary).

[/tab]

[tab]

Chữ 的 là một trong những điểm ngữ pháp gây khó khăn nhất cho người học tiếng Trung, vì nó có nhiều cách dùng và chức năng khác nhau. Tuy nhiên, nếu hiểu rõ 3 chức năng chính của dưới đây, bạn sẽ dùng nó dễ dàng hơn.


1. Chức năng kết nối giữa định ngữ và trung tâm ngữ

  • Định ngữ là phần bổ nghĩa, mô tả đặc điểm, tính chất của đối tượng (ví dụ: xinh đẹp, mới, thông minh).

  • Trung tâm ngữ là từ chính, đối tượng chính trong cụm từ (ví dụ: cô gái, điện thoại).

  • Trong tiếng Trung, định ngữ đứng trước trung tâm ngữ, và chữ dùng để kết nối hai phần này.

Ví dụ:

  • 漂亮的女孩 (cô gái xinh đẹp)

  • 新手机 (điện thoại mới)

Lưu ý: Trật tự trong tiếng Trung khác tiếng Việt. Tiếng Việt: “cô gái xinh đẹp”, tiếng Trung phải nói “xinh đẹp + 的 + cô gái”.


2. Khi nào bắt buộc dùng

  • Khi nói về sở hữu:
    我的书 (sách của tôi), 我的车 (xe của tôi)

  • Khi định ngữ là tính từ hai âm tiết trở lên:
    漂亮的女孩 (cô gái xinh đẹp), 聪明的女孩 (cô gái thông minh)

  • Khi định ngữ là tính từ một âm tiết nhưng trước đó có phó từ (chỉ mức độ, phủ định):
    不好的人 (người không tốt), 很好的人 (người rất tốt)

  • Khi định ngữ là một động từ hoặc cả một câu mô tả đối tượng:
    学汉语的人 (người học tiếng Trung), 妈妈做的饭 (cơm mẹ nấu)


3. Khi nào không cần dùng

  • Khi thông tin đứng trước mang tính phân loại, chủng loại:
    汉语书 (sách tiếng Trung), 黑白照片 (ảnh đen trắng)

  • Khi nói về tập thể thân quen hoặc thành viên gia đình:
    我家 (nhà tôi), 我们公司 (công ty chúng tôi), 我爸爸 (bố tôi), 我妈妈 (mẹ tôi)
    Nhưng nếu nói về người thân của người khác thì cần thêm :
    玛丽的爸爸 (bố của Mary)


4. Lược bỏ trung tâm ngữ khi đã biết rõ đối tượng

  • Khi đối tượng đã được nhắc đến trước đó, ta có thể chỉ nói định ngữ + , lược bỏ trung tâm ngữ để tránh lặp lại:
    这是新的吗? (Đây là cái mới à?) — thay vì phải nói đầy đủ “这是新的摩托车吗?”

  • Ví dụ:
    我喜欢吃的是面包 (Cái mà tôi thích ăn là bánh mì)
    Ở đây “吃的” đã lược bỏ từ “đồ ăn” (trung tâm ngữ).


5. Dùng để nhấn mạnh trong câu

  • Khi muốn nhấn mạnh một phần trong câu, ta dùng cấu trúc:
    是 + [cụm từ muốn nhấn mạnh] + 的
    Ví dụ: 我是坐飞机去的 (Tôi đi bằng máy bay đấy) — nhấn mạnh phương tiện đi lại là máy bay chứ không phải tàu hỏa.

  • Cũng có thể dùng 很 + [tính từ] + 的 để nhấn mạnh, tùy ngữ cảnh.


6. Một số lưu ý quan trọng

  • Khi có nhiều chữ trong cùng một cụm, ta ưu tiên giữ lại đứng gần trung tâm ngữ nhất để tránh rối rắm:
    我朋友的书 (sách của bạn tôi) — thay vì giữ hết các 的.

  • Trong 2 trường hợp không cần dùng 的 với người thân trong gia đình và tập thể, việc thêm hoặc không thêm 的 đều không sai quá nặng, người bản xứ thường bỏ để thể hiện sự gần gũi.


Tóm lại

Chức năngKhi nào dùng 的Ví dụ
Kết nối định ngữ và trung tâm ngữHầu hết các trường hợp với tính từ, động từ, cụm từ漂亮的女孩, 学汉语的人
Sở hữuKhi biểu thị quan hệ sở hữu我的书, 我的车
Định ngữ 2 âm tiếtTính từ có 2 âm tiết hoặc hơn聪明的女孩
Định ngữ 1 âm tiết + phó từTrước tính từ 1 âm tiết có phó từ不好的人, 很好的人
Không dùngPhân loại, chủng loại, người thân, tập thể汉语书, 我家, 我爸爸
Lược bỏ trung tâm ngữKhi đối tượng đã rõ ràng, chỉ dùng định ngữ + 的这是新的吗?, 我喜欢吃的是面包
Nhấn mạnhCấu trúc 是 + … + 的我是坐飞机去的

[/tab]
[/tabs]